Home / Dịch vụ / SIÊU ÂM DỊ TẬT BẨM SINH TIM THAI THÔNG LIÊN THẤT – phần 2

SIÊU ÂM DỊ TẬT BẨM SINH TIM THAI THÔNG LIÊN THẤT – phần 2

Khảo sát trên siêu âm

Thông liên thất có thể được phát hiện ở quý 2 và quý 3 thai kỳ ở mặt cắt 4 buồng và 5 buồng. Thường kết hợp siêu âm 2D và Doppler màu.Theo nghiên cứu TS Lê Kim Tuyến, khảo sát trên 2634 thai phụ, độ nhạy phát hiện tim bẩm sinh là 61%, độ đặc hiệu 99%, trong đó có 5 trường hợp không phát hiện thông liên thất.
Trên siêu âm 2D, có thể phát hiện lỗ thông có kích thước từ 2 – 3 mm trở lên. Những lỗ thông nhỏ hơn dễ bỏ sót và có thể thỉnh thoảng được phát hiện bằng siêu âm màu.

1. Thông liên thất phần buồng nhận được khảo sát ở mặt cắt ngang 4 buồng và từ mỏm tim, nhận biết lỗ thông ở dưới ngang van nhĩ thất và thường khó phân biệt với dạng nhẹ của kênh nhĩ thất toàn phần hoặc bán phần. Khi các van nhĩ thất bám ngang nhau, nên nghi ngờ dạng nhẹ của kênh nhĩ thất. Ở phần này, ảnh giả trên SA 2D và sự chồng lấp dòng máu (overlapping) trên siêu âm màu có thể dẫn đến chẩn đoán dương tính giả. Mặt cắt ngang và bên của tim trên SA 2D giúp giảm thiểu chẩn đoán dương tính và âm tính giả (hình 6 và 7).

2. Thông liên thất phần cơ hiếm khi được phát hiện trên SA 2D khi lỗ thông dưới 2-3 mm. Mặt cắt ngang 4 buồng giúp khảo sát dòng thông tốt nhất trên SA màu. Khi đó VLT vuông góc với sóng siêu âm, dòng máu qua lỗ thông gần như song song với chùm sóng và cho tín hiệu Doppler tốt nhất. Dòng máu qua lỗ thông là hai chiều, trên siêu âm màu sẽ thấy 2 màu khác nhau tùy theo thời kỳ co bóp tim. Thông liên thất phần cơ vùng giữa VLT hầu hết được phát hiện trước sinh (hình 8 và 9).

3. Thông liên thất phần quanh màng, hầu hết được phát hiện trên siêu âm 2D, hiện diện rõ ở mặt cắt 5 buồng tim. Hình ảnh mất liên tục giữa VLT và thành trong ĐMC lên. Cần khảo sát chi tiết thêm bất thường vùng thân – nón động mạch, vì liên quan mật thiết đến thông liên thất phần quanh màng (bảng 1) (hình 10).

Hình 5: 3 dạng thông liên thất trên SA 2D (Alfred Abuhamad: p262)

Hình 6: Mặt cắt 4 buồng từ mỏm, thông liên thất buồng nhận ở thai 19, 22, và 28 tuần (Alfred Abuhamad: p263)

Hình 7: Mặt cắt 4 buồng từ mỏm, siêu âm 2D và Doppler màu cho thấy thông liên thất vào buồng nhận. Nốt echo dày thất trái (EF), tràn dịch màng ngoài tim (dấu sao). Thai nhi được phát hiện là trisomy 21 (Alfred Abuhamad: p263)

 

Hình 8: Mặt cắt ngang 4 buồng. Siêu âm 2D không thấy rõ ràng lỗ thông (A). Doppler màu thấy rõ dòng chảy hai chiều qua lỗ thông vùng giữa phần cơ VLT (B, C) (Alfred Abuhamad6: p264)

 

Hình 9: Mặt cắt ngang 4 buồng tim thai nhi, thông liên thất phần cơ. A, 2D không thấy được lỗ thông. B, Dopper màu thấy rõ dòng chảy qua lỗ thông (Alfred Abuhamad6: p264).

 

Video 2: Thông liên thất phần cơ

(nguồn từ phần mềm The fetal echocardiography part2: the anormalies, tham khảo thêm trên website thefetus.net)

 

 

Hình 10: Mặt cắt 5 buồng tim thai nhi, thông liên thất phần quanh màng. Mất liên tục VLT với thành trong ĐMC (mũi tên) (Alfred Abuhamad6: p265)

 

Siêu âm tim thai ở tuần thứ 11 -14, rất khó phát hiện thông liên thất đơn thuần do lỗ thông nhỏ và hiện tượng nhiễu ảnh rất nhiều trên siêu âm 2D và Doppler màu. Trường hợp bất thường tim khác đi kèm với thông liên thất, giúp chẩn đoán chính xác hơn (hình 11).

 

Hình 11: Doppler màu và xung của thông liên thất phần cơ, cho thấy dòng chảy hai chiều tùy theo thời kỳ tim (tâm trương và tâm thu) (Alfred Abuhamad6: p266)

Siêu âm 3D tim thai

Ngày nay siêu âm 3D, 4D đã được sử dụng nhiều trong siêu âm sản khoa để hỗ trở phát hiện những bất thường thai nhi. Siêu âm 3D tim thai ở mặt cắt 4 buồng trong thông liên thất cho phép tiếp cận lỗ thông nhiều hướng khác nhau. Mode 3D tái tạo bề mặt, hướng dọc VLT cho phép xem trực tiếp kích thước lỗ thông lớn nhất. Gần đây với đầu dò ma trận điện tử sử dụng hai mặt cắt vuông góc trong thời gian thực kết hợp với Doppler màu cho phép quan sát rõ lỗ thông liên thất ở hai mặt phẳng vuông góc trong cùng một thời điểm.

Hình 12: Siêu âm 3D tim thai nhi kết hợp với Doppler màu hiển thị rõ dòng chảy qua lỗ thông. A, Mặt cắt ngang mức 4 buồng tim nằm ngang. B, hiển thị ở hướng mặt cắt trục ngang tâm thất. C, hiển thị hướng trực diện bề mặt VLT(Alfred Abuhamad6: p266).

Hình 13: Siêu âm tim thai 3D, thông liên thất phần quanh màng lỗ lớn. A, 2D và hộp 3D. B, mode 3D hiển thị bề mặt nhìn trực diện lỗ thông (Alfred Abuhamad: p267).

Kết luận

Siêu âm tim thai ở quý 2 và quý 3 thai kỳ khảo sát bệnh tim bẩm sinh có độ nhạy 61% và độ đặc hiệu rất cao 99%3. Thông liên thất là bệnh tim bẩm sinh thường gặp nhất ở thai nhi3, trong đó thông liên thất phần cơ đứng đầu trong các loại thông liên thất6.

Mặt cắt ngang 4 buồng tim cho phép quan sát rõ lỗ thông liên thất phần cơ, trong khi đó thông liên thất phần buồng nhận thường được khảo sát ở mặt cắt 4 buồng từ mỏm, còn thông liên thất phần quanh màng được đánh giá ở mặt cắt 5 buồng. Khi có thông liên thất phần quanh màng cần khảo sát kỹ vùng thân – nón động mạch vì thường hay có bất thường kết hợp (bảng 1)

Dòng chảy qua lỗ thông liên thất dạng hai chiều theo thời kỳ tim (tâm trương và tâm thu). Sự kết hợp siêu âm Doppler màu và siêu âm 3D giúp hiển thị rõ thông liên thất ở nhiều hướng khác nhau giảm thiểu dòng nhiễu do chồng lấp nhiều dòng màu.

Việc đánh giá thông liên thất ở thai kỳ sớm dưới 20 tuần, nhất là 11 -14 tuần phải cần xem xét kỹ lưỡng vì sự nhiễu ảnh trên siêu âm 2D và sự nhiễu do chồng lấp dòng màu trên siêu âm Doppler màu.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *