Home / Siêu âm thai / HƯỚNG DẪN THỰC HÀNH CỦA ISUOG: SIÊU ÂM QUÍ 1 THAI KỲ – phần II

HƯỚNG DẪN THỰC HÀNH CỦA ISUOG: SIÊU ÂM QUÍ 1 THAI KỲ – phần II

KHẢO SÁT HÌNH THÁI THAI NHI

Đầu

Sự hoá vôi vòm sọ hoàn chỉnh ở cuối tuần thứ 11 (Hình 2a). Mặt cắt ngang và đứng ngang sẽ giúp khảo sát sự hoá vôi của vòm sọ.

  • tuổi thai 11-13+6 tuần, cấu trúc nổi trội ở não là hai não thất bên với đám rối mạch mạc lấp đầy ở sừng sau (Hình 2b). Hai bán cầu đại não đối xứng nhau và được phân cách bằng rãnh liên bán cầu và liềm não. Vỏ não giai đoạn này rất mỏng, nhìn rõ nhất ở phía trước và bao quanh não thất bên chứa đầy dịch nên có thể nhầm với não ứng thuỷ. Ở giai đoạn sớm này, một số cấu trúc não (thể chai, tiểu não) chưa phát triển đầy đủ để có thể khảo sát được. Khoảng mờ trong não (IT-Intracranial Translucency) ở hố sau có thể khảo sát được ở tuổi thai này như là một test sàng lọc tật chẻ đôi đốt sống nhưng vẫn chưa được xem là một test chuẩn thường qui. Giai đoạn này cũng có thể nhìn thấy hai mắt với thuỷ tinh thể bên trong, khoảng gian hốc mắt, mặt nghiêng với xương mũi và xương hàm dưới, sự toàn vẹn của miệng và môi trên (Hình 3). Tuy nhiên, nếu không thấy có bất thường nào rõ ràng hoặc không đánh giá được mặt thai nhi ở giai đoạn này cũng không cần thiết phải siêu âm lại ở thời điểm sớm hơn quí hai.

Hình: Đầu thai, (a) đo đường kính lưỡng đỉnh, lưu ý mặt cắt ngang chuẩn qua đầu với não thất 3 và đường giữa ở trung tâm (T là đồi thị và não thất ba), Chu vi đầu nên đo ở mặt cắt này. (b) Đám rối mạch mạc bình thường(C), rãnh liên bán cầu và liềm não (mũi tên). Lưu ý đám rối mạch mạch trãi từ bờ trong đến bờ bên sừng sau não thất bên, sừng trán não thất bên (đầu mũi tên)

Cổ

Siêu âm đo độ mờ da gáy (NT) để tầm soát các bất thường NST sẽ được đề cập sau. Khi siêu âm, cần chú ý cổ và thân thai cùng nằm trên một đường thẳng, phát hiện các tụ dịch bất thường như bướu thanh dịch vùng cổ hoặc nang bạch huyết vùng cảnh.

Cột sống

Sự liên tục và thẳng hàng của cột sống cần được đánh giá trên cả mặt cắt dọc và ngang, sự toàn vẹn của da vùng cột sống cũng cần khảo sát (Hình 4). Tuy nhiên nếu không có bất thường não rõ ràng và không đánh giá được cột sống ở giai đoạn này cũng không nhất thiết phải đánh giá lại cho đến quí hai của thai kì. Cần đánh giá cột sống nếu BPD<5th.

Hình: Cột sống thai nhi Da liên tục (mũi tên ngắn) nhìn thấy phía sau cột sống từ cổ cho đến xương cùng ở mặt cắt dọc giữa chuẩn. Lưu ý sự hoá vôi của thân sống, hai cành ngang còn là sụn nên echo kém hoặc đồng dạng. Ở vùng cổ (mũi tên dài), thân sống chưa vôi hoá và mầm sụn echo kém là bình thường.

Ngực

Trên siêu âm hai phổi bình thường có dạng echo dày đồng nhất và không có tràn dịch màng phổi cũng như các khối dạng nang hay đặc ở ngực. Cần đánh giá sự toàn vẹn của cơ hoành, ghi nhận vị trí bình thường trong bụng của dạ dày và gan.

Tim

Vị trí tim bình thường nằm ở bên trái của ngực (levocardia) cần được khảo sát (Hình 5). Sự khảo sát chi tiết hơn giải phẩu học tim thai ở giai đoạn 11-13+6 tuần là điều có thể nhưng không được xem là việc thường qui ở giai đoạn này. Vì lý do an toàn, sử dụng Doppler không được chỉ định thường qui khi siêu âm giai đoạn này

Hình: Mặt cắt ngang ngực thai ở vị trí 4 buồng tim, mỏm tim hướng bên trái (L). Lưu ý hai nhĩ và hai thất đối xứng nhau qua vách liên thất (mũi tên). Hai phế trường echo dày đồng dạng và đối xứng. Động mạch chủ (Aorta) nằm bên trái cột sống (S)

  • bụng

Thời điểm 11-13 +6 ngày, dạ dày và bàng quang là các cấu trúc chứa dịch echo kém trong bụng (Hình 6a và 6b). Dạ dày nằm bên trái của bụng cùng với trục tim bên trái giúp khẳng định vị thế tạng bình thường (Situs visceralis). Hai thận hình hạt đậu với phần trung tâm echo kém (bể thận) nằm dọc hai bên cột sống (Hình 6b). Khi thai 12 tuần, bàng quang là một cấu trúc hình tròn echo kém nằm ở giữa của phần bụng dưới.

Thành bụng

Vị trí bình thường của dây rốn cắm vào thành bụng cần xác định khi thai được 12 tuần (Hình 6c). Thoát vị rốn sinh lý tồn tại cho đến 11 tuần và cần phân biệt thoát vị rốn với hở thành bụng.

Tứ chi

Thời điểm 11-13 +6 ngày cần xác định chi trên và chi dưới có đủ các xương, bàn tay và bàn chân cũng phải nhìn thấy. Đốt tận của bàn tay và bàn chân có thể nhìn thấy khi thai được 11 tuần, đặc biệt là với siêu âm ngã âm đạo (Hình 7a)

Sinh dục

Đánh giá cơ quan sinh dục và giới tính dựa trên hướng của mấu sinh dục trên mặt cắt dọc giữa chuẩn. Tuy nhiên chưa đủ độ chính xác để ứng dụng trên lâm sàng

Hình: Tứ chi (a) Tay bình thường có bàn tay và cổ tay thẳng hàng. (b) Chân bình thường có hướng của bàn chân vuông với chi dưới. Thận (K) và dạ dày (S)

Dây rốn:

Số lượng mạch máu trong dây rốn, vị trí cắm của dây rốn và nang dây rốn cần được ghi nhận. Có thể đặt nhanh color hay power Doppler lên vùng bàng quang để xem có đủ hai động mạch rốn chạy hai bên bàng quang không, tuy nhiên đây không phải là điều thường qui của siêu âm quí một.

Vai trò của siêu âm 3D và 4D

Siêu âm 3D và 4D không được dùng thường qui ở quí một để khảo sát hình thái thai nhi vì độ ly giải không tốt như siêu âm 2D. Một số chuyên gia có thể dùng kỹ thuật này để đánh giá các bất thường, đặc biệt là bất thường ở bề mặt thai nhi.

Đánh giá các bất thường nhiễm sắc thể

Siêu âm sàng lọc các bất thường NST ở quí một có thể được triển khai tuỳ theo nguồn nhân lực và các chính sách của mỗi quốc gia về sức khoẻ cộng đồng. Sàng lọc quí một nên bao gồm việc siêu âm đo độ mờ da gáy. Sàng lọc có hiệu quả hơn nếu phối hợp với các marker khác như xét nghiệm sinh hoá (Beta HCG tự do và PAPPA). Trong một số trường hợp thích hợp, các dấu ấn khác của lệch bội như bất sản xương mũi, hở van 3 lá, dòng đảo ngược sóng a ống tĩnh mạch có thể được dùng nếu cá nhân được tập huấn và có bằng cấp đạt chuẩn đo.Hầu hết các chuyên gia đều khuyến cáo nên đo NT ở thời điểm 11-13+6 ngày, tương ứng với CRL từ 45-84mm. Thời điểm này được chọn vì xét nghiệm sàng lọc đạt tối ưu, kích thước thai đủ để có thể phát hiện các dị tật lớn và nếu có chỉ định chấm dứt thai kì thì dễ thực hiện. Để việc đo NT đạt yêu cầu, cần sẵn sàng nhiều yếu tố như máy siêu âm phù hợp, người làm siêu âm có bằng cấp, có chuyên gia tư vấn và xử trí. Để biết thêm thông tin, xin vui lòng truy cập trang web của FMF – Fetal Medicine Foundation (www.fetalmedicine.com). Tuy nhiên, ngay cả khi không được huấn luyện về chương trình sàng lọc lệch bội dựa trên NT, vẫn khuyến cáo nên khảo sát vùng da gáy và nếu thấy dày bất thường thì sẽ gởi đến chuyên gia có năng lực.

Cách đo NT

Người thực hiện siêu âm NT cần phải có bằng cấp và được tập huấn tốt. Siêu âm NT có thể siêu ngã bụng hoặc ngã âm đạo.

Thai nhi phải ở tư thế trung tính, mặt cắt dọc giữa, phóng lớn chỉ thấy đầu và một phần ngực thai nhi. Màng ối nằm tách ra khỏi thai.

Định nghĩa mặt cắt chính giữa của mặt thai nhi: có sự hiện diện của đường echo dày của chóp mũi, phần khẩu cái trước có hình vuông, não giữa ở trung tâm và lớp màng da gáy ở phía sau.

Nếu không cắt đúng mặt cắt dọc giữa chuẩn, sẽ không thấy chóp đầu mũi và thấy phần trước của xương hàm trên ở bình diện thẳng.

Cần loại máy siêu âm đo chính xác đến 0.1mm. Đặt con trỏ ở vị trí đúng (trong-trong) và NT là khoảng mờ lớn nhất giữa màng da gáy và phần mô mềm nằm phủ trên cột sống cổ (Hình 8).

Đo nhiều lần và nếu tất cả các lần đo đều đạt theo chuẩn thì chọn trị số lớn nhất để tính nguy cơ. Đa thai, cần có sự xem xét đặc biệt, nguy cơ tuỳ thuộc vào số bánh nhau.

Người đo NT cần được tập huấn để đảm bảo sự đo đạt chính xác. Kết quả đo NTdù của bất kỳ ai thuộc quốc gia nào hàng năm đều phải được đánh giá và có sự phản hồi của người có thẩm quyền (GOOD PRACTICE POINT)

Các cấu trúc khác trong và ngoài tử cung

Phản âm của cấu trúc bánh nhau cần được đánh giá. Các bất thường rõ ràng như khối u, các cấu trúc echo trống hay vùng tụ dịch sau bánh nhau lớn (>5cm) cần được ghi nhận và theo dõi.

Vị trí của bánh nhau so với lỗ trong cổ TC không quan trọng ở thời điểm quí một này vì hầu hết bánh nhau sẽ di chuyển lên trên xa lỗ trong cổ TC. Nhau tiền đạo không nên được chẩn đoán ở thời điểm này.

Cần chú ý nếu có vết mổ củ vì nguy cơ thai bám sẹo mổ củ, nhau cài răng lược và các biến chứng nghiêm trọng. Trong các trường hợp này, khoảng giữa bàng quang và đoạn eo tử cung, ở vị trí của sẹo mổ củ cần được xem xét cẩn thận. Khi có nghi ngờ cần hội chẩn với các chuyên gia có nhiều kinh nghiệm hơn để chẩn đoán và xử trí.

Bệnh lý phụ khoa bao gồm cả lành và ác tính, có thể được phát hiện khi siêu âm quí một. Các bất thường của hình dạng tử cung như tử cung có vách và tử cung hai sừng nếu có cần được mô tả. Phần phụ cần kiểm tra xem có khối u bấ thường không? Xử trí các bất thường này không nằm trong phạm vi của hướng dẫn này

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *